Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải nhìn nhận, công nghiệp chế biến chế tạo ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế, với mức đóng góp trong GDP tăng từ 13% năm 2010 lên 16,7% năm 2020.

null

"Năng lực cạnh tranh công nghiệp đã được cải thiện đáng kể, báo cáo cạnh tranh công nghiệp của UNIDO đã đưa Việt Nam từ nhóm “các nền kinh tế đang phát triển” lên nhóm “các nền kinh tế công nghiệp mới nổi”, Thứ trưởng cho biết.

Tuy vậy, Thứ trưởng chỉ ra, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn vừa qua vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức.

1. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế

Hiện nay, nội lực của nền công nghiệp trong nước còn yếu.

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp công nghiệp trong nước chưa cao, giá trị gia tăng tạo ra còn thấp.

Trong xu thế hội nhập, muốn thắng thế, đòi hỏi đặt ra đối với các doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh.

Trong những năm qua, doanh nghiệp Việt Nam đã có nhiều bước đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh.

Tuy nhiên, trước sức ép hội nhập, vẫn còn nhiều vấn đề đặt cần giải quyết…

Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố hàng năm cho thấy, chi phí vay vốn ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thường cao hơn so với của doanh nghiệp lớn, khoảng 1-2%/năm; tỷ lệ chi phí không chính thức đối với DNNVV còn lớn.

Các rào cản về thể chế, liên quan đến các vấn đề như: Thừa nhận vai trò doanh nghiệp tư nhân nói chung, pháp lý tài sản, thủ tục hành chính, môi trường cạnh tranh bất bình đẳng, chất lượng đội ngũ công vụ, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước... là những rào cản ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

null
Thực trạng này đang đặt ra những thách thức lớn đối với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.

Mặt khác, trình độ, năng lực tiếp cận tiêu chuẩn quốc tế trong quản trị doanh nghiệp có hạn chế rất lớn.

Nhiều doanh nghiệp chưa có chiến lược kinh doanh, vẫn chủ yếu kinh doanh dựa trên kinh nghiệm, kinh doanh theo phi vụ.

Các chiến lược phân phối, truyền thông, xúc tiến thương mại của các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều yếu kém.

null
Hoạt động xúc tiến thương mại còn giản đơn, không có hiệu quả thiết thực.
Chi phí cho hoạt động xúc tiến thương mại chỉ bằng dưới 1% doanh thu so với tỷ lệ 10% đến 20% của doanh nghiệp nước ngoài.

2. Nguồn nhân lực công nghiệp tại Việt Nam còn yếu kém

Việt Nam hiện có lực lượng lao động dồi dào so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.

Tổng số dân của Việt Nam năm 2020 là 97.757.118 người, là quốc gia đông dân thứ ba trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có 54,56 triệu người (chiếm gần 58% dân số) đang trong độ tuổi lao động.

Tỷ trọng dân số tham gia lực lượng lao động cao nhất ở nhóm tuổi 25-29.

Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đang ở mức thấp trong bậc thang năng lực quốc tế, thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao.

Số người có trình độ chuyên môn kỹ thuật chỉ có 11,39 triệu lao động (chiếm 20,87%) qua đào tạo có bằng/chứng chỉ (bao gồm các trình độ sơ cấp nghề, trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học), chiếm 20,92% tổng lực lượng lao động.

null
Trong 10 năm qua, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng mạnh nhưng vẫn còn 76,9% người tham gia lực lượng lao động chưa được đào tạo chuyên môn.

Ngoài ra, có sự phân hóa nhất định của lực lượng lao động theo đặc trưng vùng địa lý.

Lực lượng lao động đã được đào tạo có bằng, chứng chỉ (từ sơ cấp trở lên) ở khu vực thành thị cao gấp 2,5 lần khu vực nông thôn.

Tỷ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ cao nhất ở vùng Đồng bằng sông Hồng (31,8%) và Đông Nam Bộ (27,5%); thấp nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long (13,6%).

Theo số liệu thống kê mà Bộ Kế hoạch – Đầu tư năm 2019, năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 7,6% mức năng suất của Singapore; 19,5% của Malaysia; 37,9% của Thái Lan; 45,6% của Indonesia; 56,9% của Philippines, 68,9% của Brunei. So với Myanmar, Việt Nam chỉ bằng 90% và chỉ bằng 88,7% Lào.

null
Trong khu vực Đông Nam Á, năng suất lao động của Việt Nam chỉ cao hơn Campuchia.

3. Trình độ khoa học - công nghệ của doanh nghiệp chưa tiến bộ rõ rệt

Đa số các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng ngoài cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, với sự tiếp cận ở mức độ thấp đối với tất cả các trụ cột của một nền sản xuất thông minh.

Thời gian qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã xây dựng hành lang pháp lý, đưa ra các chương trình hỗ trợ hoạt động đổi mới khoa học và công nghệ của doanh nghiệp.

Cụ thể, là đã kết nối nhiều nguồn cung và cầu công nghệ, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Trong quá trình đàm phán chuyển giao công nghệ, đã có nhiều hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp như: Tư vấn công nghệ, các vấn đề pháp lý, kết nối nguồn lực tài chính cho doanh nghiệp.

Nhiều công nghệ sau khi được chuyển giao đã phát huy hiệu quả, phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tăng lợi nhuận và khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa.

Tuy nhiên, kết quả đổi mới công nghệ của doanh nghiệp vẫn còn nhiều vấn đề đáng quan tâm.

Khảo sát mới đây của Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết, chỉ có 23% số các doanh nghiệp được điều tra có hoạt động đổi mới, cải tiến công nghệ.

Nguyên nhân là do nguồn vốn đầu tư còn hạn chế.

Trong khi cơ chế tài chính hỗ trợ cho doanh nghiệp vay vốn, bảo lãnh vốn vay và các hỗ trợ khác chưa tạo điều kiện để doanh nghiệp đổi mới công nghệ chưa thông thoáng, thuận lợi cho doanh nghiệp.

Khảo sát này cũng cho thấy, các tổ chức làm nhiệm vụ môi giới và dịch vụ trong thị trường công nghệ để kết nối giữa nguồn cung và cầu công nghệ còn hạn chế.

Điều này góp phần lý giải nguyên nhân vì sao các nhà khoa học chưa thuyết phục được nhiều doanh nghiệp thương mại hóa các kết quả nghiên cứu...

Trong khi đó, theo khảo sát của Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc và Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, tỷ lệ nhập khẩu công nghệ của Việt Nam hiện chỉ ở mức 10% (thấp hơn nhiều so với con số trung bình 40% của các nước đang phát triển).

null
Trong đó, nhiều công nghệ thuộc thập niên 80 - 90 của thế kỷ trước và 75% máy móc đã hết khấu hao.

Kết quả này phần nào phản ánh tình trạng chậm đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các DNNVV với tiềm lực tài chính yếu.

Sự yếu kém trong cải tiến công nghệ của DNNVV bắt nguồn từ các yếu tố chi phối đến khả năng đổi mới của doanh nghiệp như quy mô nguồn lực của doanh nghiệp , đặc điểm của chủ doanh nghiệp , cơ chế chính sách cho đổi mới sáng tạo.

4. Sản xuất công nghiệp gặp nhiều khó khăn về tiếp cận vốn

Bản chất của khu vực sản xuất đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn dài hạn.

Trong khi nguồn lực xã hội đầu tư vào sản xuất rất hạn chế do thời gian thu hồi vốn chậm, lợi nhuận biên kém hấp dẫn so với đầu tư vào lĩnh vực khác như bất động sản, tài chính.

Nhìn chung, khung chính sách, pháp luật về tín dụng và hỗ trợ vốn vay đối với DNNVV từng bước được hoàn thiện theo hướng tạo thuận lợi hơn, nhằm tháo gỡ khó khăn cho nhóm doanh nghiệp này phát triển.

Các cơ chế hỗ trợ tiếp cận tín dụng qua hệ thống ngân hàng thương mại cũng dần hoàn thiện, nhằm tăng khả năng tiếp cận tín dụng cho DNNVV.

null
Tuy nhiên, nhìn chung, DNNVV vẫn hạn chế trong tiếp cận nguồn vốn này.

Theo ông Nguyễn Quốc Hùng, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước), mặc dù Việt Nam được xếp hạng thứ 29/190 quốc gia về chỉ số tiếp cận tín dụng, thế nhưng đến thời điểm hiện tại, vẫn có đến 60% DNNVV chưa tiếp cận được nguồn vốn.

null
Không chỉ có vay vốn ngân hàng, các doanh nghiệp này cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn khác, như: phát hành cổ phiếu, phát hành trái phiếu, quỹ đầu tư…

5. Chính sách phát triển công nghiệp vẫn còn điểm nghẽn

  • Ông Trương Thanh Hoài - Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) cho biết, chính sách phát triển công nghiệp của Việt Nam còn dàn trải.

null
Việc bố trí nguồn lực cho phát triển công nghiệp chưa đủ mạnh, chưa tạo điều kiện thuận lợi tối đa để công nghiệp phát triển.

Trong đó, quan trọng nhất là nhận thức về đối tượng cần hướng đến của các chính sách phát triển công nghiệp là khu vực kinh tế tư nhân chưa được chú trọng.

Ngoài ra, các lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo là các lĩnh vực Nhà nước sẽ không đóng vai trò chủ đạo mà là các doanh nghiệp tư nhân. Trong đó 98% là các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Bên cạnh đó, phần lớn các địa phương còn rất thụ động trong việc triển khai thực hiện chính sách phát triển công nghiệp quốc gia.

Thậm chí, còn có tình trạng địa phương còn có các chủ trương, chính sách chưa phù hợp với chủ trương của Trung ương về phát triển các ngành công nghiệp.

Phân tích sâu hơn về chính sách phát triển công nghiệp, ông Ngô Đức Minh (Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế - Bộ Công Thương) bày tỏ, do thiếu cơ sở pháp lý ở tầm quốc gia.

null
Điều này dẫn đến việc phân bổ nguồn lực cho cơ chế, chính sách cho phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm, chủ lực là rất thấp.

Có nơi thậm chí không có cơ chế, chính sách ưu đãi hoặc phân bổ nguồn lực hoặc nếu có thì nguồn lực không tạo đủ xung lực cần thiết để thúc đẩy phát triển đột phá.

Tạm kết

Với những vấn đề còn tồn tại nêu trên của ngành công nghiệp Việt Nam nếu không được giải quyết, năng lực cạnh tranh của Việt Nam sẽ không được cải thiện.

Các yếu tố cho tăng trưởng ở giai đoạn trước sẽ không còn phát huy được tác dụng trong giai đoạn tới.

Khi đó nguy cơ mắc bẫy thu nhập trung bình càng trở nên hiện hữu.

Việt Nam sẽ khó đạt được mục tiêu trở thành nước công nghiệp, nước phát triển như mục tiêu đặt ra.

Đồng thời, đối tượng hướng đến của các chính sách phát triển công nghiệp Việt Nam cần đặt trọng tâm vào thành phần kinh tế ngoài quốc doanh.

null
Đặc biệt là các doanh nghiệp công nghiệp lớn tiềm năng và hệ thống doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 98% số lượng doanh nghiệp trong nước.

Có thể nói rằng công nghiệp hoá hiện đại hoá là quá trình lâu dài đầy khó khăn gian khổ đòi hỏi chúng ta phải hết sức nỗ lực phấn đấu.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chiến lược này, chúng ta phải đối mặt với nhiều khó khăn thử thách.

Nhưng chúng ta cũng có đủ những điều kiện và khả năng để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước mà toàn Đảng, toàn dân ta đã đề ra quyết tâm thực hiện.

Vì vậy, chúng ta cần tập trung các nguồn lực để thúc đẩy hình thành các tập đoàn công nghiệp tư nhân lớn, đóng vai trò dẫn dắt hệ thống doanh nghiệp công nghiệp nội địa và vươn ra thị trường khu vực trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.